Thứ năm, 16/10/2025, 15:33 PM

Hoạt động đánh giá sự phù hợp tạo công cụ pháp lý bảo đảm hàng hóa phù hợp tiêu chuẩn

(CL&CS) - Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia Nguyễn Nam Hải khẳng định, hoạt động đánh giá sự phù hợp tạo công cụ pháp lý bảo đảm hàng hóa phù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn, trong đó đánh giá sự phù hợp là căn cứ pháp lý để quản lý hàng hóa, cho phép lưu thông, xuất nhập khẩu, hoặc sử dụng dấu hợp quy (CR). Đồng thời góp phần chuyển hướng từ tiền kiểm sang hậu kiểm có căn cứ khoa học.

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ, hoạt động đánh giá sự phù hợp ngày càng khẳng định vai trò then chốt trong việc bảo đảm chất lượng, an toàn và độ tin cậy của sản phẩm, dịch vụ trên thị trường.

Theo đó, đánh giá sự phù hợp là việc xác định đối tượng của hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật phù hợp với đặc tính kỹ thuật và yêu cầu quản lý quy định trong tiêu chuẩn tương ứng và quy chuẩn kỹ thuật tương ứng.

Đánh giá sự phù hợp bao gồm hoạt động thử nghiệm, hiệu chuẩn, giám định, chứng nhận hợp chuẩn, chứng nhận hợp quy, công bố hợp chuẩn, công bố hợp quy, công nhận năng lực phòng thử nghiệm, phòng hiệu chuẩn, tổ chức chứng nhận sự phù hợp, tổ chức giám định.

3

Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia Nguyễn Nam Hải. (Ảnh: Thanh Tùng)

Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia Nguyễn Nam Hải cho biết, đối tượng của hoạt động đánh giá sự phù hợp, bao gồm:

Thứ nhất là đối tượng được đánh giá sự phù hợp - Sản phẩm, hàng hóa: Bao gồm sản phẩm sản xuất trong nước, hàng hóa nhập khẩu, hàng hóa xuất khẩu theo yêu cầu của thị trường.

Quá trình, hệ thống, dịch vụ: Quá trình sản xuất, cung ứng dịch vụ, hệ thống quản lý chất lượng, môi trường, an toàn (ISO 9001, ISO 14001, ISO 22000...).

Tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật áp dụng: Là căn cứ pháp lý, kỹ thuật để xác định sự phù hợp, gồm TCVN, QCVN hoặc tiêu chuẩn quốc tế, khu vực, cơ sở tương ứng.

Thứ hai là tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động đánh giá sự phù hợp - Tổ chức đánh giá sự phù hợp: Tổ chức thử nghiệm (theo ISO/IEC 17025); Tổ chức giám định (theo ISO/IEC 17020); Tổ chức chứng nhận (theo ISO/IEC 17065, ISO/IEC 17021); Tổ chức công nhận (theo ISO/IEC 17011).

Tổ chức, cá nhân được đánh giá: Doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, dịch vụ có sản phẩm hoặc hệ thống cần chứng nhận, công bố hợp chuẩn, hợp quy.

Cơ quan quản lý nhà nước: Có trách nhiệm quản lý, chỉ định, thừa nhận, thanh tra, kiểm tra hoạt động đánh giá sự phù hợp.

Theo Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia Nguyễn Nam Hải, mục đích quản lý nhà nước đối với hoạt động đánh giá sự phù hợp, bao gồm:

Thứ nhất là đảm bảo tính khách quan, tin cậy của kết quả đánh giá sự phù hợp. Nhà nước quản lý để bảo đảm các tổ chức đánh giá sự phù hợp hoạt động đúng năng lực, trung thực, độc lập; Ngăn ngừa tình trạng “chứng nhận dễ dãi”, “thử nghiệm khống”, bảo vệ uy tín hệ thống quốc gia.

Thứ hai là tạo công cụ pháp lý bảo đảm hàng hóa phù hợp quy chuẩn, tiêu chuẩn – Đánh giá sự phù hợp là căn cứ pháp lý để quản lý hàng hóa, cho phép lưu thông, xuất nhập khẩu, hoặc sử dụng dấu hợp quy (CR); Góp phần chuyển hướng từ tiền kiểm sang hậu kiểm có căn cứ khoa học.

Thứ ba là thúc đẩy thương mại và hội nhập quốc tế - Tăng khả năng thừa nhận lẫn nhau (MRA) giữa Việt Nam và các nước theo nguyên tắc WTO/TBT, ILAC, IAF, APAC; Giảm rào cản kỹ thuật trong thương mại, nâng cao năng lực xuất khẩu.

Thứ tư là phát triển hạ tầng chất lượng quốc gia (NQI) - Xây dựng mạng lưới các tổ chức đánh giá sự phù hợp đủ năng lực; Kết nối với cơ sở dữ liệu TĐC quốc gia, phục vụ truy xuất, giám sát, cảnh báo rủi ro chất lượng.

Thứ năm là nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ quyền lợi các bên liên quan - Giúp cơ quan quản lý nhà nước kiểm soát được “đầu ra” của hàng hóa thông qua kết quả đánh giá sự phù hợp; Giúp doanh nghiệp minh chứng chất lượng, tạo niềm tin cho người tiêu dùng.

Việc đánh giá sự phù hợp được thực hiện theo một trong các phương thức sau đây:

a) Phương thức 1: Thử nghiệm mẫu điển hình;

b) Phương thức 2: Thử nghiệm mẫu điển hình kết hợp đánh giá quá trình sản xuất, giám sát thông qua thử nghiệm mẫu lấy trên thị trường;

c) Phương thức 3: Thử nghiệm mẫu điển hình kết hợp đánh giá quá trình sản xuất; giám sát thông qua thử nghiệm mẫu lấy tại nơi sản xuất kết hợp với đánh giá quá trình sản xuất;

d) Phương thức 4: Thử nghiệm mẫu điển hình và đánh giá quá trình sản xuất; giám sát thông qua thử nghiệm mẫu lấy tại nơi sản xuất và trên thị trường kết hợp với đánh giá quá trình sản xuất;

đ) Phương thức 5: Thử nghiệm mẫu điển hình và đánh giá quá trình sản xuất; giám sát thông qua thử nghiệm mẫu lấy tại nơi sản xuất hoặc trên thị trường kết hợp với đánh giá quá trình sản xuất;

e) Phương thức 6: Đánh giá và giám sát hệ thống quản lý;

g) Phương thức 7: Thử nghiệm, đánh giá lô sản phẩm, hàng hóa;

h) Phương thức 8: Thử nghiệm hoặc kiểm định toàn bộ sản phẩm, hàng hóa.

Theo VietQ.vn

Bình luận

Nổi bật

TCVN 4255:2025: Chuẩn hóa 'lá chắn IP' cho thiết bị điện trong môi trường hiện đại

TCVN 4255:2025: Chuẩn hóa 'lá chắn IP' cho thiết bị điện trong môi trường hiện đại

sự kiện🞄Thứ ba, 05/05/2026, 15:24

(CL&CS) - TCVN 4255:2025 được ban hành nhằm thống nhất cách đánh giá và phân loại cấp bảo vệ bằng vỏ ngoài theo mã IP, trên cơ sở tương đương tiêu chuẩn IEC 60529:2013, giúp doanh nghiệp và nhà sản xuất có cơ sở kỹ thuật rõ ràng trong thiết kế và kiểm định sản phẩm.

TCVN 14404:2025 áp dụng cho nhiên liệu tuốc bin hàng không

TCVN 14404:2025 áp dụng cho nhiên liệu tuốc bin hàng không

sự kiện🞄Thứ ba, 05/05/2026, 09:57

(CL&CS) - Tiêu chuẩn quốc gia TCVN 14404:2025 được ban hành giúp xác định đặc tính tách nước trong nhiên liệu tuốc bin hàng không kerosin bằng thiết bị xách tay, hỗ trợ đánh giá nhanh tại hiện trường và phòng thí nghiệm.

Tiêu chuẩn và quy định về AI: Hai trụ cột kiến tạo trật tự quản trị trí tuệ nhân tạo toàn cầu

Tiêu chuẩn và quy định về AI: Hai trụ cột kiến tạo trật tự quản trị trí tuệ nhân tạo toàn cầu

sự kiện🞄Thứ ba, 05/05/2026, 09:56

(CL&CS) - Sự phát triển bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI) đang đặt ra thách thức chưa từng có đối với các hệ thống quản trị truyền thống. Khi luật pháp khó theo kịp tốc độ đổi mới công nghệ, các tiêu chuẩn kỹ thuật nổi lên như công cụ trung gian giúp “hiện thực hóa” các nguyên tắc pháp lý.