Việt Nam xây dựng vùng nguyên liệu gỗ chất lượng để phát triển ngành công nghiệp gỗ

(CL&CS) - Thời gian qua, Thị trường gỗ nguyên liệu nhập khẩu tăng làm giảm sức cạnh tranh của ngành gỗ. Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển xây dựng rừng gỗ lớn thành nguồn gỗ nguyên liệu chính, có chất lượng, đa dạng về chủng loại loài và phát triển, bảo vệ rừng bền vững.

Ngày 22/04, tại TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Dịnh đã diễn ra Hội nghị: Phát triển vùng nguyên liệu phục vụ ngành công nghiệp chế biến gỗ, xuất khẩu. Hội nghị xác định: Phấn đấu đến năm 2025, sản lượng gỗ nguyên liệu toàn quốc khai thác từ rừng trồng đạt 35 triệu m3.

Hội nghị tìm giải pháp phát triển vùng nguyên liệu gỗ rừng trồng bền vững.

Hội nghị do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) phối hợp với Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam tổ chức.

Tham dự Hội nghị có: ông Lê Quốc Doanh, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT; ông Nguyễn Tuấn Thanh, Phó chủ tịch thường trực UBND tỉnh Bình Định; ông Đỗ Xuân Lập, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản (G&LS) Việt Nam; Đại diện các Sở NN&PTNT các tỉnh: Bắc Giang, Tuyên Quang, Quảng Nam, Bình Định, An Giang, Cà Mau… cùng hơn 330 đại biểu là các nhà nghiên cứu, nhà khoa học, nhà quản lý, doanh nhân đến từ các viện nghiên cứu, trường đại học, cao đẳng, các hiệp hội G&LS (VIFOREST, HAWA, BIFA, DOWA).

Ngành chế biến gỗ xuất khẩu của Việt Nam đang trải qua những biến động rất lớn trong thời gian vừa qua. Đại dịch Covid-19 và gần đây là xung đột giữa Nga và Ukraina làm cho cước vận chuyển tăng phi mã, giá gỗ nguyên liệu nhập khẩu tăng cao.

Theo Tổng cục Hải quan cho biết: Chỉ trong vòng 3 tháng đầu 2022, ước tính nhập khẩu gỗ nguyên liệu tháng 3 vừa qua đạt 415,3 ngàn m3, trị giá 155,8 triệu USD, tăng 15,2% về trị giá so với tháng 2-2022. Trong đó, giá gỗ thông tròn nhập khẩu đã tăng 52%, gỗ thông xẻ nhập khẩu tăng 38%, gỗ sồi xẻ tăng 36%.

Bên cạnh đó, thời gian nhập khẩu kéo dài dẫn đến các doanh nghiệp phải chậm các hoạt động sản xuất. Các yếu tố này đang trực tiếp làm giảm lợi thế cạnh tranh của ngành.

Xem thêm:

Các doanh nghiệp lo ngại nhập khẩu gỗ nguyên liệu chi phí tăng cao

Theo ông Lê Quốc Doanh – Thứ trưởng Bộ NN&PTNT, mặc dù công tác trồng rừng nguyên liệu đã đạt được những thành tích đáng tự hào nhưng để cung cấp đủ gỗ nguyên liệu phục vụ chế biến, xuất khẩu đạt 17 tỷ USD vào năm 2022 và 20 tỷ USD vào năm 2025 theo Chiến lược Phát triển Lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt thì công tác trồng rừng nguyên liệu còn nhiều hạn chế.

Theo Bộ NN&PTNT, cả nước hiện có 5.580 doanh nghiệp (DN) sản xuất, kinh doanh, chế biến gỗ và lâm sản (CBG&LS); trong đó có 4.760 DN CBG, 240 DN sản xuất ván nhân tạo, 188 DN sản xuất dăm gỗ. Ngành CBG&LS cả nước hiện có trên 500.000 lao động, trong đó lao động động được đào tạo, làm việc ổn định chiếm 55-60%. Những năm qua, ngành CBG&LS là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam.

Theo thống kê, chỉ tính riêng năm 2021, mặc dù chịu tác động do đại dịch Covid-19, song giá trị xuất khẩu của ngành công nghiệp CBG vẫn đạt gần 16 tỷ USD, tăng 20% so với năm 2020 và tăng gần 21% so với năm 2015.

Hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu của các DN ngành CBG&LS vẫn còn nhiều hạn chế, khó khăn, bất cập.

Lý giải về vấn đề này, Theo Bộ NN&PTNT, một trong những khó khăn của ngành CBG&LS là gỗ nguyên liệu và vùng nguyên liệu. Hiện nay, cả nước hiện có khoảng 1.000/5.580 DN sản xuất, kinh doanh CBG&LS được chứng nhận FSC và PEEC quốc tế (chứng nhận quản lý theo chuôi hành trình sản phẩm); gỗ nguyên liệu trong nước đáp ứng gần 80% nhu cầu nguyên liệu, tuy nhiên trong đó có tới 70% là gỗ kích thước nhỏ.

Xem thêm:

Người tiêu dùng thông minh lựa chọn các sản phẩm nội ngoại thất minh bạch thông tin

Đáng lưu ý, công tác phát triển vùng nguyên liệu gặp khá nhiều khó khăn, nhất là các vấn đề: Đất đai và hạ tầng; Chính sách,  tín dụng; Giống và kỹ thuật; Rủi ro trong trồng rừng sản xuất. Theo đó, Bộ NN&PTNT xác định: Phấn đấu ít nhất 90% diện tích rừng được trồng từ giống cây lâm nghiệp đã được công nhận; năng suất rừng trồng thâm canh giống mới trung bình 20m3/ha/năm vào năm 2025 và và 22m3/ha/năm vào năm 2030; đến năm 2025, sản lượng gỗ nguyên liệu toàn quốc khai thác từ rừng trồng đạt 35 triệu m3 và 50 triệu m3 vào năm 2030; diện tích rừng có chứng chỉ rừng bền vững đạt trên 0,5 triệu ha giai đoạn 2021-2025 và trên 01 triệu ha giai đoạn 2026-2030.

Đồng quan điểm về vấn đề này, ông Đỗ Xuân Lập – Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết: Chính phủ  cần ưu tiên, khuyến khích việc phát triển gỗ rừng trồng là gỗ lớn, có chứng chỉ bền vững. Điều này đã thể hiện rõ trong Chiến lược Phát triển ngành Lâm nghiệp 2006 - 2020 và gần là Chiến lược 2020 - 2030 và Tầm nhìn tới 2050, cũng như trong Đề án Phát triển bền vững ngành Chế biến gỗ vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt vào tháng 3 vừa qua.

Xem thêm:

Phát triển ngành công nghiệp chế biến gỗ bền vững

Bên cạnh các cơ chế chính sách kể trên, các doanh nghiệp trong ngành cũng vô cùng nỗ lực trong việc tìm kiếm cơ hội tham gia trực tiếp vào chuỗi cung trồng rừng gỗ lớn, có chứng chỉ.

Nguồn cung gỗ rừng trồng có chất lượng là nguồn gỗ nguyên liệu đầu vào cho sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Tuy nhiên, nếu chúng ta nhìn vào kết quả thực tế đến nay của việc trồng rừng gỗ lớn, đặc biệt là trồng rừng có chứng chỉ bền vững FSC thì thấy còn nhiều hạn chế, ông Đỗ Xuân Lập nhận định.

Dẫn con số thống kê của Nhóm nghiên cứu của các Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam và Forest Trend, tính đến hết tháng 3/2022 tổng diện tích rừng trồng là rừng sản xuất có chứng chỉ FSC của Việt Nam đạt gần 180.000 ha, tương đương khoảng 5% trong tổng số diện tích rừng sản xuất của Việt Nam.

Nếu tính cả diện tích rừng đạt chứng chỉ VFCS/PEFC (khoảng 50.000 ha cho tới nay) thì tổng diện tích rừng có chứng chỉ bền vững mới chỉ đạt dưới 7% tổng diện tích rừng trồng là rừng sản xuất. Bên cạnh đó, tỷ trọng gỗ rừng trồng đi vào chế biến đồ gỗ của thấp, chỉ chiếm 30 - 40% trong tổng lượng gỗ khai thác. Phần còn lại 60 - 70% đi vào dăm và viên nén. Năng suất rừng trồng tới nay cũng còn rất hạn chế. Nhiều diện tích mới chỉ đạt 10 - 15 m3/ha/năm, thấp hơn nhiều so với tiềm năng.

Cam kết chất lượng gỗ và bảo vệ môi trường rừng

Nhu cầu của ngành gỗ là phải có nguồn vùng trồng gỗ lớn, có chất lượng, bền vững. Việt Nam có tiềm năng trong việc phát triển nguồn nguyên liệu này.

Biểu đồ về lượng cung cầu thị trường gỗ tích cực và không tích cực.

Để khai thác tốt các cơ hội để đưa nguyên liệu gỗ khai thác trong nước đáp ứng nhu cầu ngành càng cao của ngành chế biến gỗ phục vụ nhu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Để giảm bớt lượng gỗ nhập khẩu nhiều nhiều chuyên gia cho rằng, cần hoàn thiện, thực hiện hiệu quả cơ chế, chính sách thu hút đầu tư trồng rừng.

Xem thêm:

Hiệp định EVFTA: Cam kết về môi trường xã hội trong ngành lâm nghiệp

Bên cạnh đó, cần rà soát, xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy hoạch Quốc gia ngành Lâm nghiệp Việt Nam. Trong đó, tập trung rà soát, đánh giá diện tích đất lâm nghiệp và rừng trồng sản xuất hiện có; diện tích rừng phòng hộ ít xung yếu để phát triển rừng sản xuất; tạo vùng nguyên liệu tập trung, đủ lớn; gắn với quy hoạch các cơ sở chế biến, thị trường tiêu thụ.

Bài toán được đặt ra là cần khai thác gỗ từ rừng hợp lý có quy hoạch, xác định được vùng trồng và có kế hoạch bảo vệ môi trường rừng. Ngoài ra, cần tăng cường công tác quản lý chất lượng giống cây trồng lâm nghiệp theo các quy định hiện hành cũng như đẩy mạnh phát triển gỗ có chứng chỉ quản lý rừng bền vững. Đẩy mạnh phát triển các mô hình hợp tác, liên kết giữa doanh nghiệp chế biến gỗ với các chủ rừng trong trồng rừng gỗ lớn, có chứng chỉ quản lý rừng bền vững.

TIN LIÊN QUAN