Nhân lực văn hóa - Chủ thể sáng tạo và dẫn dắt phát triển

(CL&CS) - Theo PGS. TS. NGUYỄN VĂN HIỆU, Hiệu trưởng Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, Đại học Quốc gia Hà Nội, Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam mở ra một không gian rất rõ cho các cơ sở đào tạo đổi mới mạnh mẽ cả về nội dung lẫn phương thức đào tạo. Đây là cơ hội để tái cấu trúc toàn bộ cách tiếp cận đối với giáo dục văn hóa nói chung, trong đó có nghệ thuật, trong bối cảnh mới.

Tái cấu trúc hệ thống đào tạo và sử dụng nhân lực văn hóa

- Một trong những nhiệm vụ được đưa ra trong Nghị quyết 80 là khơi thông nguồn lực phát triển văn hóa, trong đó có nguồn nhân lực. Ở góc độ người đứng đầu một cơ sở đào tạo về văn hóa, nghệ thuật, ông tâm đắc với quan điểm nào trong Nghị quyết này?

- Nghị quyết số 80-NQ/TW thể hiện bước chuyển rất rõ trong tư duy phát triển văn hóa, khi đặt vấn đề nguồn nhân lực vào vị trí trung tâm của toàn bộ hệ thống. Điều khiến tôi đặc biệt tâm đắc là cách Nghị quyết nhìn nhận văn hóa không chỉ là một đối tượng đầu tư mà còn là một nguồn lực quan trọng của phát triển; đồng thời, nhân lực văn hóa không đơn thuần là lực lượng thực thi, mà là chủ thể sáng tạo, là nguồn lực trực tiếp tạo ra giá trị và dẫn dắt quá trình phát triển.

Ở đây có một thay đổi then chốt về cách tiếp cận. Nhân lực văn hóa không còn được hiểu theo nghĩa hẹp là đội ngũ văn nghệ sĩ hoạt động trong các thiết chế văn hóa, nghệ thuật, mà được mở rộng sang người lao động các lĩnh vực công nghiệp văn hóa, nội dung số, thiết kế, truyền thông, quản trị di sản và cả những không gian sáng tạo mới. Điều đó đồng nghĩa với việc đào tạo nhân lực cũng phải thay đổi từ đào tạo người thực hành nghệ thuật kiểu truyền thống sang người lao động có năng lực liên ngành, có khả năng biến tác phẩm nghệ thuật thành sản phẩm công nghiệp văn hóa, thích ứng với thị trường và sự dịch chuyển nhanh của công nghệ.

Triển lãm bài tập của sinh viên Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật

Nghị quyết cũng nhấn mạnh việc phát triển các chương trình đào tạo đặc thù, tích hợp giữa văn hóa, nghệ thuật và công nghệ, đồng thời chú trọng xây dựng đội ngũ chuyên gia, mạng lưới tri thức trong và ngoài nước. Đây là nền tảng rất quan trọng để hình thành một thế hệ nhân lực mới, có khả năng vừa sáng tạo, vừa quản trị, vừa tham gia vào thị trường văn hóa toàn cầu.

Từ thực tiễn đào tạo, có thể thấy định hướng này hoàn toàn phù hợp với xu thế phát triển hiện nay. Khi nhân lực được đặt đúng vị trí, mọi chiến lược phát triển văn hóa mới có thể đi vào chiều sâu và tạo ra giá trị bền vững.

- Ông đánh giá thế nào về nhân lực trong lĩnh vực văn hóa hiện nay, cả về số lượng và khả năng đáp ứng yêu cầu thực tiễn?

- Thực trạng nhân lực trong lĩnh vực văn hóa hiện nay cho thấy một nghịch lý khá rõ. Nguồn cung về số lượng không hẳn là thiếu, nhưng chất lượng và cấu trúc chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển trong bối cảnh mới.

Sinh viên Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, ĐHQG Hà Nội trong lễ tốt nghiệp

Trước hết, do hình thành với mục tiêu hướng đến hoạt động nghệ thuật mà chưa chuẩn bị cho sự phát triển của công nghiệp văn hóa nên đào tạo vẫn còn nặng tính đơn ngành. Nhiều chương trình tập trung vào chuyên môn riêng lẻ mà chưa tạo được khả năng kết nối giữa sáng tạo nghệ thuật, công nghệ và quản trị. Trong khi đó, thực tiễn của công nghiệp văn hóa lại đòi hỏi những con người có thể làm việc tại giao điểm của nhiều lĩnh vực, từ nội dung, thiết kế, truyền thông đến vận hành thị trường.

Thứ hai, mối liên hệ giữa đào tạo và thị trường còn lỏng lẻo. Không ít trường hợp sinh viên tốt nghiệp có nền tảng lý thuyết nhưng thiếu kinh nghiệm thực hành, thiếu khả năng tham gia ngay vào các chuỗi giá trị văn hóa. Điều này làm cho nguồn nhân lực chưa phát huy hết tiềm năng, đồng thời khiến các doanh nghiệp sáng tạo gặp khó khăn trong tìm kiếm nhân sự phù hợp.

Trong bối cảnh các nền tảng số phát triển mạnh và cạnh tranh nội dung ngày càng khốc liệt, những hạn chế này càng bộc lộ rõ. Vì vậy, vấn đề đặt ra không phải là tăng số lượng, mà là tái cấu trúc toàn bộ hệ thống đào tạo và sử dụng nhân lực theo hướng phù hợp với hệ sinh thái công nghiệp văn hóa.

Sinh viên Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật trong giờ học thực tế

Đào tạo liên ngành, mở rộng không gian học tập

- Từ thực tiễn đào tạo tại nhà trường, ông nhìn nhận những thuận lợi và điểm nghẽn lớn nhất hiện nay trong phát triển nguồn nhân lực văn hóa là gì?

- Có thể thấy lĩnh vực nhân lực văn hóa hiện nay đang đứng trước cả cơ hội và thách thức đan xen. Về thuận lợi, nhu cầu xã hội đối với các ngành công nghiệp văn hóa và sáng tạo đang tăng rất nhanh. Sự phát triển của kinh tế số, truyền thông, thiết kế và giải trí đã mở ra nhiều không gian nghề nghiệp mới. Bên cạnh đó, các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước đã bước đầu tạo hành lang chính sách rõ ràng hơn cho lĩnh vực này. Sinh viên hiện nay cũng có lợi thế lớn về khả năng tiếp cận công nghệ, tư duy mở và tinh thần sáng tạo.

Tuy nhiên, khó khăn vẫn còn rất đáng kể. Nhận thức xã hội về sự phát triển của các ngành văn hóa, nghệ thuật trong bối cảnh mới, đặc biệt là trong cấu trúc công nghiệp văn hóa chưa thực sự đầy đủ, ảnh hưởng đến chất lượng nguồn tuyển. Một ví dụ: khi làm tuyển sinh, tôi thấy nhiều phụ huynh và học sinh băn khoăn về việc tại sao học nghệ thuật lại cần phải có kiến thức nền về văn hóa và xã hội, tại sao không giảm dung lượng đào tạo của khối kiến thức đó để chỉ tập trung vào đào tạo thực hành nghệ thuật.

Phụ huynh và học sinh vẫn chưa hình dung được những điều kiện của thực hành nghệ thuật không chỉ dừng ở kỹ năng nghề nghiệp chuyên sâu. Người làm nghệ thuật thị giác không chỉ cần phải làm chủ kỹ năng hội họa, video, nhiếp ảnh, mà còn phải có vốn văn hóa, suy tư về xã hội, nhân sinh và thậm chí cả tư duy về quản trị để định vị được sản phẩm của mình trong chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa. Người làm điện ảnh, âm nhạc, hay những nghệ thuật khác cũng vậy.

PGS. TS. Nguyễn Văn Hiệu với sinh viên Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật

Bên cạnh đó, việc xây dựng chương trình đào tạo liên ngành cũng gặp nhiều thách thức do yêu cầu tích hợp kiến thức và phương pháp từ nhiều lĩnh vực khác nhau. Cơ chế quản lý đào tạo chưa thật sự linh hoạt để đáp ứng đặc thù của các ngành sáng tạo. Đặc biệt, môi trường thực hành còn thiếu tính hệ thống, chưa hình thành được những không gian, nơi sinh viên có thể vừa học, vừa làm, vừa thử nghiệm các ý tưởng mới.

Trong bối cảnh đó, việc phát huy hiệu quả không gian Đại học Quốc gia Hà Nội tại Hòa Lạc là một hướng đi có ý nghĩa chiến lược, cho phép hình thành các không gian thực hành sáng tạo quy mô lớn, gắn đào tạo với nghiên cứu và thử nghiệm. Đồng thời, với những ngành đặc thù như nghệ thuật và công nghiệp văn hóa, những kết nối của nhà trường với các thiết chế văn hóa hiện hữu của Hà Nội như Văn Miếu - Quốc Tử Giám hay Bảo tàng Hà Nội nhằm mở rộng không gian học tập ra ngoài giảng đường cũng có ý nghĩa rất lớn.

Chỉ khi hình thành được sự liên kết linh hoạt và chặt chẽ giữa nhà trường và các không gian văn hóa của thành phố, mới có thể xây dựng một hệ sinh thái đào tạo thực chất, nơi người học vừa tích lũy tri thức, vừa trực tiếp tham gia vào quá trình sáng tạo và kiến tạo giá trị ngay từ khi còn trên ghế nhà trường.

Sinh viên Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật, ĐHQG Hà Nội tham gia dự án cộng đồng "Xẩm đến trường" của ca sĩ Soobin

Cơ chế phù hợp sẽ tạo chuyển biến về chất lượng

- Nghị quyết 80 xác định đào tạo và đãi ngộ nhân tài văn hóa là một đột phá ưu tiên. Ông kỳ vọng những thay đổi cụ thể nào về cơ chế để có thể thực sự thu hút, nuôi dưỡng và phát huy đội ngũ này?

- Việc Nghị quyết 80 xác định đào tạo và đãi ngộ nhân tài trong lĩnh vực văn hóa là một trong những đột phá chiến lược cho thấy một nhận thức rất đúng và kịp thời. Đây là lĩnh vực đòi hỏi quá trình tích lũy lâu dài, nhưng nếu có cơ chế phù hợp, có thể tạo ra những chuyển biến rất nhanh về chất lượng.

Điều được kỳ vọng trước hết là sự hình thành các cơ chế đào tạo đặc thù. Các chương trình cần được thiết kế linh hoạt hơn, cho phép tích hợp giữa văn hóa, nghệ thuật, công nghệ và quản trị; đồng thời tạo điều kiện cho người học tham gia vào các dự án thực tế ngay trong quá trình đào tạo. Bên cạnh đó, chính sách đãi ngộ cần đủ mạnh để thu hút và giữ chân những người có năng lực sáng tạo, giúp họ yên tâm phát triển nghề nghiệp trong dài hạn.

Một điểm quan trọng khác là cần có sự đầu tư trọng tâm, tránh dàn trải. Những lĩnh vực như công nghiệp văn hóa, sáng tạo nội dung số, quản trị di sản và đổi mới sáng tạo cần được ưu tiên để tạo ra các cực tăng trưởng mới. Đồng thời, việc xây dựng mạng lưới chuyên gia, tăng cường hợp tác quốc tế sẽ giúp nâng cao chất lượng nhân lực một cách nhanh chóng.

Triển lãm bài tập của sinh viên Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật

Nếu các cơ chế này được triển khai hiệu quả, hệ thống đào tạo văn hóa sẽ chuyển từ trạng thái cung cấp nhân lực sang vai trò nuôi dưỡng một hệ sinh thái sáng tạo, nơi con người được phát triển toàn diện và có khả năng đóng góp trực tiếp vào nền kinh tế văn hóa.

Tận dụng tối đa hệ sinh thái nghiên cứu và đào tạo

- Trước yêu cầu phát triển các chương trình đào tạo đặc thù về văn hóa, nghệ thuật, công nghiệp sáng tạo và quản trị dữ liệu văn hóa, Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật sẽ tận dụng cơ hội này ra sao để đổi mới mô hình đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực?

- Thế mạnh của Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật là có hệ sinh thái nghiên cứu và đào tạo hoàn chỉnh và hữu cơ, trong đó nghệ thuật được gắn chặt với công nghiệp văn hóa, di sản, với thiết kế sáng tạo, kiến trúc và quy hoạch, phát triển bền vững, quản trị và kinh tế sáng tạo. Hệ sinh thái đó bao hàm trọn vẹn các quy trình của công nghiệp văn hóa từ sáng tạo đến chuyển hóa thành sản phẩm công nghiệp văn hóa và đưa vào thị trường, kiến tạo không gian tồn tại và hưởng thụ văn hóa gắn với các mục tiêu phát triển bền vững.

Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật sẽ phát triển các chương trình đào tạo theo hướng tích hợp, nhằm hình thành những nhân lực có khả năng làm việc liên ngành

Định hướng của nhà trường là tận dụng tối đa ưu thế về hệ sinh thái đó để phát triển các chương trình đào tạo theo hướng tích hợp giữa văn hóa, nghệ thuật, công nghệ và quản trị, nhằm hình thành những nhân lực có khả năng làm việc liên ngành, có tư duy sáng tạo và hiểu được vận hành của thị trường. Các lĩnh vực như công nghiệp văn hóa, nội dung số, quản trị di sản và thiết kế sáng tạo sẽ tiếp tục được chú trọng.

Một điều then chốt nữa là Trường sẽ đẩy mạnh xây dựng các không gian thực hành sáng tạo, kết hợp giữa hạ tầng của nhà trường và các thiết chế văn hóa của thành phố Hà Nội.

Trong thời gian qua, đội ngũ giảng viên và sinh viên của Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật đã tham gia tích cực vào các hoạt động sáng tạo của thành phố như Lễ hội Thiết kế sáng tạo hay Photo Hanoi, qua đó góp phần định hình và lan tỏa bản sắc của Hà Nội với tư cách một thành phố sáng tạo. Những trải nghiệm này vượt ra ngoài phạm vi hoạt động ngoại khóa, từng bước được tích hợp vào quá trình đào tạo, giúp người học hình thành năng lực thực hành và tư duy nghề nghiệp một cách trực tiếp và sống động.

Triển lãm bài tập của sinh viên Trường Khoa học liên ngành và Nghệ thuật

Trên nền tảng đó, thời gian tới, nhà trường hướng tới xây dựng các chương trình đào tạo trọng điểm mang tính tinh hoa theo mô hình chương trình tài năng, nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực nghệ thuật và công nghiệp văn hóa. Đây không chỉ là chiến lược phát triển nội tại, mà còn là cam kết đóng góp vào việc hình thành một thế hệ chủ thể sáng tạo mới, có khả năng dẫn dắt sự phát triển của công nghiệp văn hóa.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

TIN LIÊN QUAN