Thứ sáu, 17/04/2026, 15:23 PM

Việt Nam hướng tới xây dựng hệ thống tiêu chuẩn carbon trong nước

(CL&CS) - Hiện nay, Việt Nam đang xây dựng thị trường carbon trên ba trụ cột chính, gồm: hệ thống hạn ngạch phát thải tập trung vào các ngành phát thải lớn như nhiệt điện, sắt thép, xi măng; hệ thống tín chỉ carbon trong nước và cơ chế kết nối với thị trường quốc tế. Đây được xem là nền tảng quan trọng để từng bước hình thành thị trường đồng bộ, hiệu quả.

Chuyển đổi xanh là điều kiện bắt buộc

Ngày 17/4, tại Hà Nội, Diễn đàn Hoàn thiện chính sách và nâng cao năng lực doanh nghiệp tham gia thị trường carbon được diễn ra với sự tham gia của các chuyên gia, nhà lãnh đạo, đại diện các sở ngành, các tổ chức, hiệp hội doanh nghiệp trong nước và quốc tế, hiệp hội ngành nghề, hiệp hội doanh nghiệp các địa phương, các doanh nghiệp, các nhà đầu tư, nhà nghiên cứu... Chương trình được triển khai với sự đồng hành và hỗ trợ kỹ thuật từ các đối tác quốc tế, Bộ Ngoại Giao và Thương mại Úc (DFAT) và Chương trình Aus4Growth.

Ông Hoàng Quang Phòng - Phó Chủ tịch VCCI

Phát biểu tại diễn đàn, ông Hoàng Quang Phòng nhấn mạnh, thế giới đang bước vào một giai đoạn chuyển đổi sâu sắc, trong đó chuyển đổi xanh không còn là lựa chọn mà đã trở thành điều kiện bắt buộc để tham gia thị trường toàn cầu. Với Việt Nam, điều này càng trở nên cấp thiết khi các tiêu chuẩn môi trường ngày càng được siết chặt trong các chuỗi cung ứng quốc tế.

Theo ông Phòng, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều định hướng lớn nhằm tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi này, từ đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đến phát triển kinh tế tư nhân và hội nhập quốc tế. Đây chính là “trục chính sách” giúp doanh nghiệp Việt Nam thích ứng với xu thế mới, trong đó thị trường carbon đóng vai trò ngày càng quan trọng. Không chỉ là công cụ thực hiện nghĩa vụ giảm phát thải, thị trường carbon đang dần trở thành một không gian kinh tế mới. Mỗi tín chỉ carbon, theo ông Phòng, không đơn thuần là con số kỹ thuật, mà là kết quả của đổi mới công nghệ, của quản trị hiệu quả và hoàn toàn có thể trở thành một loại tài sản có giá trị.

Tham gia thị trường này, doanh nghiệp có thể đạt được nhiều lợi ích cùng lúc, tối ưu hóa chi phí thông qua tiết kiệm năng lượng, nâng cao uy tín trên thị trường quốc tế, đồng thời mở rộng khả năng tiếp cận các nguồn tài chính xanh. Tuy nhiên, để làm được điều đó, doanh nghiệp phải đáp ứng những yêu cầu rất cao về minh bạch, tiêu chuẩn kỹ thuật và năng lực triển khai.

Chính vì vậy, diễn đàn không dừng lại ở trao đổi lý thuyết mà tập trung vào các giải pháp cụ thể. Ba trọng tâm được nhấn mạnh gồm: tháo gỡ rào cản thông tin để doanh nghiệp hiểu rõ “luật chơi”; kết nối cung - cầu nhằm đưa doanh nghiệp trong nước tiếp cận thị trường quốc tế; và học hỏi kinh nghiệm thực tiễn để xây dựng, vận hành các dự án carbon một cách bài bản.

Ở góc độ chính sách, ông Đỗ Thanh Lâm, đại diện Vụ Pháp chế, Bộ Tài chính cho biết, việc ban hành Nghị định 29/2026/NĐ-CP về sàn giao dịch carbon trong nước là bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện khung pháp lý cho thị trường này. Theo đó, sàn giao dịch carbon được thiết kế vận hành theo nguyên tắc công khai, minh bạch, đảm bảo quyền lợi của các chủ thể tham gia. Hàng hóa giao dịch gồm hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ carbon, được quản lý tập trung thông qua hệ thống đăng ký quốc gia do Bộ Nông nghiệp và Môi trường vận hành.

Ông Đỗ Thanh Lâm, đại diện Vụ Pháp chế, Bộ Tài chính

Đáng chú ý, mô hình tổ chức sàn được xây dựng trên nền tảng hạ tầng thị trường chứng khoán, trong đó Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội đảm nhiệm giao dịch, còn Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ chứng khoán Việt Nam thực hiện lưu ký và thanh toán. Cách tiếp cận này được kỳ vọng giúp tận dụng hạ tầng sẵn có, đồng thời đảm bảo tính an toàn, minh bạch trong giao dịch.

Giai đoạn thí điểm thị trường dự kiến kéo dài đến hết năm 2028, với nhiều cơ chế hỗ trợ nhằm khuyến khích doanh nghiệp tham gia. Trong thời gian này, doanh nghiệp cần chủ động nâng cao năng lực, từ hiểu biết pháp lý, xây dựng chiến lược quản trị hạn ngạch đến lựa chọn đối tác trung gian và tiếp cận thông tin thị trường. Theo ông Lâm, việc chuẩn bị sớm không chỉ giúp doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu tuân thủ mà còn tạo lợi thế cạnh tranh khi thị trường chính thức vận hành.

Tạo điều kiện để cơ quan quản lý hoàn thiện chính sách và hạ tầng

Ở góc độ quản lý chuyên ngành, ông Phạm Nam Hưng, đại diện Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, Việt Nam đã có hơn 10 năm chuẩn bị cho việc hình thành thị trường carbon, đặc biệt kể từ khi tham gia COP26 và cam kết đạt phát thải ròng bằng “0”. Hiện nay, khung pháp lý cơ bản đã được thiết lập, với thị trường carbon vận hành dựa trên hai loại hàng hóa chính là hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon. Đây là công cụ quan trọng để định giá carbon và huy động nguồn lực tài chính cho chuyển đổi xanh.

IMG_20260417_144116
Ông Phạm Nam Hưng, đại diện Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Theo thiết kế, thị trường carbon Việt Nam gồm ba trụ cột, hệ thống hạn ngạch phát thải áp dụng cho các doanh nghiệp phát thải lớn; cơ chế phát triển tín chỉ carbon trong nước; và cơ chế trao đổi tín chỉ carbon quốc tế. Hiện đã có khoảng 110 doanh nghiệp trong các lĩnh vực như nhiệt điện, thép, xi măng được phân bổ hạn ngạch để chuẩn bị tham gia.

Giai đoạn thí điểm từ 2026-2028 được xem là bước “làm quen” quan trọng, giúp doanh nghiệp hiểu cơ chế vận hành, đồng thời tạo điều kiện để cơ quan quản lý hoàn thiện chính sách và hạ tầng. Tuy nhiên, theo ông Hưng, thách thức không nhỏ là làm sao đảm bảo chất lượng tín chỉ carbon, tránh tình trạng “tín chỉ kém chất lượng” như một số thị trường quốc tế từng gặp phải. Về dài hạn, Việt Nam hướng tới xây dựng hệ thống tiêu chuẩn carbon trong nước, đồng thời từng bước kết nối với thị trường quốc tế. Điều này không chỉ giúp thu hút nguồn lực đầu tư mà còn giảm thiểu rủi ro từ các rào cản môi trường đang gia tăng trên toàn cầu.

IMG_20260417_144130

Bà Cecilia Brennan, Tham tán kinh tế, Đại sứ quán Australia tại Việt Nam

Ở góc độ quốc tế, bà Cecilia Brennan, Tham tán kinh tế, Đại sứ quán Australia tại Việt Nam nhận định, Việt Nam đang bước vào giai đoạn then chốt, khi nền tảng pháp lý đã được thiết lập và trọng tâm chuyển sang triển khai thực tế. Theo bà, một hệ thống tín chỉ carbon vận hành hiệu quả sẽ góp phần huy động nguồn lực tài chính, thúc đẩy giảm phát thải với chi phí hợp lý, đồng thời nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Bà Brennan cho biết Australia đã và đang hỗ trợ Việt Nam thông qua nhiều chương trình hợp tác về kỹ thuật và tài chính, như Chương trình Nền tảng Đối tác doanh nghiệp, Quan hệ Đối tác tài chính khí hậu Australia, hay các sáng kiến trong khuôn khổ Aus4lnnovation. Các hoạt động này tập trung vào phát triển dự án giảm phát thải, thúc đẩy tài chính xanh và hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường carbon.

Phát biểu tại Diễn đàn, ông Lachlan Simpson, Tham tán, Đại sứ quán Australia, đại diện Bộ Biến đổi Khí hậu, Năng lượng, Môi trường và Nước cho biết, kinh nghiệm của Australia cho thấy thị trường các-bon không thể được xây dựng trong một sớm một chiều, mà cần phát triển theo thời gian thông qua các cách tiếp cận chính sách khác nhau.

IMG_20260417_144118

Ông Lachlan Simpson, Tham tán, Đại sứ quán Australia, đại diện Bộ Biến đổi Khí hậu, Năng lượng, Môi trường và Nước 

Chính điều này khiến Australia trở thành một trường hợp tham chiếu hữu ích, khi chúng tôi đã thử nghiệm nhiều mô hình khác nhau với thông điệp cốt lõi là quá trình hoạch định và triển khai cần thời gian. Ông Simpson cho biết, bài học cần lưu ý là thể chế, lộ trình triển khai và tính tin cậy quan trọng hơn bất kỳ thiết kế chính sách đơn lẻ nào. Hiện nay, thị trường các-bon đã trở thành một cấu phần quan trọng của hệ thống kinh tế toàn cầu khi không chỉ gắn với các cam kết khí hậu mà còn liên quan trực tiếp đến thương mại và tài chính.

Các cơ chế như điều chỉnh biên giới các-bon của EU (CBAM) đang gắn các-bon với năng lực cạnh tranh thương mại. Đồng thời, Điều 6 của Thỏa thuận Paris mở ra cơ hội tiếp cận nguồn tài chính các-bon toàn cầu, hỗ trợ các quốc gia thực hiện các cam kết khí hậu. Tuy nhiên, ông Simpson nhận định thách thức lớn hiện nay không phải là nhu cầu, mà là nguồn cung tín chỉ các-bon có độ tin cậy cao, được bảo đảm bởi các hệ thống quản lý chặt chẽ.

Australia không áp dụng một mô hình duy nhất, mà trải qua nhiều giai đoạn điều chỉnh chính sách. Dù có nhiều thay đổi, nền tảng cốt lõi, bao gồm quản trị, hệ thống báo cáo phát thải và khung pháp lý luôn được duy trì ổn định. Ông Simpson nhấn mạnh: "Chính những yếu tố này tạo dựng niềm tin thị trường và đảm bảo tính bền vững". Trong hơn một thập kỷ, Australia đã chuyển từ các hệ thống cấp bang sang khung quốc gia, từ cơ chế định giá các-bon sang Quỹ Giảm phát thải, và hiện nay là Cơ chế Safeguard tập trung vào các cơ sở phát thải lớn.

Cụ thể, chính sách của Chính phủ Australia nhắm đến việc giảm phát thải tại các cơ sở phát thải nhiều nhất của quốc gia này như cơ sở khai thác mỏ, sản xuất dầu khí, sản xuất công nghiệp, vận tải và xử lý chất thải. Với số lượng hơn 200 doanh nghiệp được yêu cầu giảm lượng khí thải phù hợp với các mục tiêu giảm phát thải của Australia. Các cơ sở này phải tuân thủ lộ trình giảm phát thải phù hợp với mục tiêu quốc gia vào các mốc 2030, 2035, hướng đến mục tiêu đạt mức phát phải ròng bằng 0 trong năm 2050. Theo ông Simpson, các cơ sở này đã được cung cấp mức phát thải cơ bản giảm dần theo thời gian và họ có thể giảm phát thải trực tiếp hoặc mua tín chỉ phát thải để quy định này. Điều này sẽ tạo được sự linh hoạt và thúc đẩy việc giảm chi phí...

IMG_20260417_144127

Việc nâng cao năng lực cho doanh nghiệp, từ hiểu biết chính sách đến kỹ năng xây dựng dự án và tiếp cận thị trường là yếu tố then chốt

PGS. Phạm Hoàng Lương – Giảng viên cao cấp và Trưởng Nhóm chuyên môn hệ thống năng lượng – Đại học Bách Khoa Hà Nội, Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam đặt vấn đề: Nhiều doanh nghiệp quan tâm liên quan đến việc xác định và đo lường phát thải các-bon. Mấu chốt của thị trường các-bon nằm ở khả năng tính toán chính xác lượng phát thải, trong khi đây là bài toán phức tạp do phụ thuộc vào nhiều yếu tố như công nghệ, quy mô, đặc thù sản xuất cũng như loại nguyên liệu đầu vào. Tuy vậy, thực tế hiện nay vẫn tồn tại những nguồn phát thải lớn nhưng chưa có hệ số phát thải cụ thể, gây khó khăn cho doanh nghiệp trong quá trình kiểm kê.

Theo bà Vũ Thị Châu Quỳnh, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Tài chính cho biết, chuyển đổi xanh không còn là một lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành một điều kiện tiên quyết, một "giấy thông hành" để doanh nghiệp Việt Nam tiến xa ra biển lớn cũng như hội nhập thị trường. Do đó, việc tuân thủ tiêu chí giảm phát thải không còn là khuyến khích, mà là yêu cầu bắt buộc với doanh nghiệp. 

Chia sẻ ba lưu ý với các doanh nghiệp, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế, Bộ Tài chính cho rằng, thứ nhất, doanh nghiệp cần chủ động xây dựng năng lực về thị trường các-bon, tìm hiểu các quyền và quy định pháp lý liên quan, có sự chủ động quản lý tài khoản các-bon của mình như tài sản tài chính;

Thứ hai, cần xây dựng đội ngũ nhân sự quản lý “tài sản” các-bon này để tối ưu hoá lợi ích. Không chỉ hạn chế với doanh nghiệp trong diện áp dụng hạn ngạch. Hiện mới có 110 doanh nghiệp trong diện này và tiếp sau đây chắc chắn sẽ mở rộng hơn, doanh nghiệp cần chủ động. Các doanh nghiệp cũng cần năm bắt các quy định liên quan, các quy định khác như thuế thu nhập doanh nghiệp, quy định tài chính liên quan.

Thứ ba, doanh nghiệp cần xây dựng kế hoạch dài hạn để đảm bảo chi phí tuân thủ giảm phát thải là tốt nhất. Bởi dư địa giảm phát thải của nhiều ngành có giới hạn, do đó, doanh nghiệp có thể lựa chọn công nghệ tối ưu, hoặc mua hạn ngạch, bù trừ phát thải…

Trên thực tế, trước khi thị trường các-bon hình thành, nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã chủ động chuyển đổi theo yêu cầu của thị trường quốc tế. Phần lớn doanh nghiệp trong hiệp hội đều có hoạt động xuất khẩu, với sản phẩm có mặt tại nhiều quốc gia trên thế giới. Điều này cho thấy doanh nghiệp Việt Nam không thiếu năng lực, thậm chí rất tiên phong trong nhiều lĩnh vực.

Theo các chuyên gia, một trong những thách thức lớn hiện nay là mức độ sẵn sàng của doanh nghiệp còn hạn chế, trong khi yêu cầu về minh bạch, tính toàn vẹn và chất lượng tín chỉ ngày càng cao. Do đó, việc nâng cao năng lực cho doanh nghiệp, từ hiểu biết chính sách đến kỹ năng xây dựng dự án và tiếp cận thị trường là yếu tố then chốt. Diễn đàn cũng đặt ra ba nhóm giải pháp trọng tâm gồm: tháo gỡ rào cản thông tin để doanh nghiệp hiểu rõ cơ chế vận hành và các tiêu chuẩn quốc tế; kết nối cung-cầu tín chỉ carbon giữa doanh nghiệp trong nước và đối tác quốc tế; Thúc đẩy học hỏi kinh nghiệm thực tiễn từ các chuyên gia, tổ chức quốc tế.

Trong bối cảnh gần một phần ba lượng phát thải toàn cầu đã được điều tiết bởi các cơ chế định giá carbon, việc tham gia thị trường này không chỉ là yêu cầu tuân thủ, mà còn là cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Tuy nhiên, để tận dụng cơ hội đó, cần có sự đồng hành chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và các đối tác quốc tế trong việc hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực thực thi.

Hồng Liên

Bình luận

Nổi bật

Hoàn thiện nền tảng kết nối, kiến tạo hệ tiêu chuẩn cho ngành sự kiện – triển lãm Việt Nam

Hoàn thiện nền tảng kết nối, kiến tạo hệ tiêu chuẩn cho ngành sự kiện – triển lãm Việt Nam

sự kiện🞄Thứ tư, 06/05/2026, 21:57

(CL&CS) - Diễn ra từ ngày 30/7 đến 2/8/2026 tại Trung tâm Triển lãm Việt Nam, VEEW 2026 gồm một chuỗi hội nghị, hội thảo chuyên môn, trình diễn công nghệ, triển lãm và một loạt các sự kiện giải trí song hành.

Vật liệu xây dựng xanh: Hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn cho phát triển bền vững

Vật liệu xây dựng xanh: Hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn cho phát triển bền vững

sự kiện🞄Thứ tư, 06/05/2026, 11:57

(CL&CS) - Trong bối cảnh chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng xanh, vật liệu xây dựng thân thiện môi trường đang trở thành xu hướng tất yếu. Tuy nhiên, để phát triển đồng bộ và hiệu quả, việc hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật là yêu cầu cấp thiết, tạo nền tảng cho ngành xây dựng phát triển bền vững.

TCVN 4255:2025: Chuẩn hóa 'lá chắn IP' cho thiết bị điện trong môi trường hiện đại

TCVN 4255:2025: Chuẩn hóa 'lá chắn IP' cho thiết bị điện trong môi trường hiện đại

sự kiện🞄Thứ ba, 05/05/2026, 15:24

(CL&CS) - TCVN 4255:2025 được ban hành nhằm thống nhất cách đánh giá và phân loại cấp bảo vệ bằng vỏ ngoài theo mã IP, trên cơ sở tương đương tiêu chuẩn IEC 60529:2013, giúp doanh nghiệp và nhà sản xuất có cơ sở kỹ thuật rõ ràng trong thiết kế và kiểm định sản phẩm.