Khi hạt gạo gắn với tiêu chuẩn môi trường và truy xuất nguồn gốc

(CL&CS)- Giảm phát thải, truy xuất minh bạch, đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế – hạt gạo Việt đang chuyển mình theo hướng xanh và bền vững. Sự thay đổi này không chỉ bảo vệ môi trường mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường toàn cầu.

Mới đây, tại thôn Đông Mẫu, Hợp tác xã Nam Cường (xã Yên Cường, tỉnh Ninh Bình), mô hình canh tác lúa hiệu quả cao, phát thải thấp gắn với trình diễn công nghệ cơ giới hóa gieo sạ hàng kết hợp vùi phân đã chính thức được khởi động. Đây là sự kiện thứ hai trong chuỗi mô hình triển khai tại khu vực Đồng bằng sông Hồng vụ Đông Xuân 2026, sau điểm trình diễn đầu tiên tổ chức tại Hưng Yên ngày 10/2.

Việc liên tiếp triển khai các mô hình ngay từ đầu vụ cho thấy quyết tâm của ngành nông nghiệp trong thúc đẩy sản xuất lúa theo hướng hiện đại, tiết kiệm chi phí và giảm tác động môi trường. Hoạt động nằm trong khuôn khổ Đề án “Sản xuất giảm phát thải lĩnh vực trồng trọt giai đoạn 2025–2035, tầm nhìn đến năm 2050” và Dự án “Sử dụng phân bón đúng” do Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ tài trợ.

Khi hạt gạo gắn với tiêu chuẩn môi trường và truy xuất nguồn gốc

Tại Hợp tác xã Nam Cường, mô hình được triển khai trên diện tích 2,5 ha, sử dụng giống lúa Thiên Ưu 8 với lượng gieo sạ khoảng 45 kg/ha. Trọng tâm là ứng dụng cơ giới hóa gieo sạ hàng kết hợp vùi phân bằng máy ngay từ đầu vụ; thực hiện bón phân theo nguyên tắc “4 đúng”; quản lý nước theo phương pháp ướt – khô xen kẽ; đồng thời áp dụng quản lý dịch hại tổng hợp.

Theo đánh giá của các chuyên gia, việc gieo sạ đúng mật độ và vùi phân chính xác theo hàng giúp giảm lượng giống, hạn chế số lần bón bổ sung trong suốt chu kỳ sinh trưởng. Nhờ đó, nông dân tiết kiệm đáng kể chi phí vật tư, nước tưới và công lao động. Quan trọng hơn, quy trình này góp phần giảm phát thải khí nhà kính trong sản xuất lúa – lĩnh vực vốn được xem là một trong những nguồn phát thải đáng kể của ngành nông nghiệp.

Ông Nguyễn Quốc Mạnh - Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho biết, các mô hình triển khai trong vụ Đông Xuân 2026 sẽ là cơ sở thực tiễn quan trọng để từng bước hoàn thiện quy trình canh tác lúa phát thải thấp phù hợp với điều kiện cụ thể của các địa phương vùng Đồng bằng sông Hồng.

Theo ông Mạnh, thông qua quá trình triển khai thực tế, các giải pháp như cơ giới hóa gieo sạ, bón phân hợp lý, quản lý nước tiết kiệm hay quản lý dịch hại tổng hợp sẽ được kiểm chứng, đánh giá khách quan. Kết quả này sẽ là nền tảng để xây dựng hướng dẫn kỹ thuật chuẩn hóa và nhân rộng mô hình trong thời gian tới.

Không dừng lại ở khía cạnh kỹ thuật, mô hình sản xuất lúa phát thải thấp còn gắn chặt với chiến lược nâng cao năng lực cạnh tranh và xây dựng thương hiệu gạo quốc gia. Ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Hợp tác quốc tế (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho rằng, giảm phát thải và nâng cao chất lượng không còn là lựa chọn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành định hướng chiến lược xuyên suốt của ngành nông nghiệp Việt Nam.

Theo ông Tuấn, chuyển đổi sang mô hình sản xuất lúa gạo phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh không chỉ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của hạt gạo Việt Nam trên thị trường quốc tế, mà còn đóng góp trực tiếp vào lộ trình thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Trong bối cảnh thương mại nông sản toàn cầu ngày càng gắn với tiêu chuẩn bền vững, những dòng gạo “xanh”, có chứng nhận môi trường và hệ thống truy xuất nguồn gốc minh bạch đang trở thành lợi thế cạnh tranh quan trọng. Đây được xem là “tấm vé” để gạo Việt Nam thâm nhập sâu hơn vào các thị trường cao cấp như Liên minh châu Âu, Nhật Bản và Bắc Mỹ – nơi người tiêu dùng sẵn sàng chi trả cao hơn cho sản phẩm đáp ứng tiêu chí an toàn, phát thải thấp và minh bạch chuỗi cung ứng.

Ông Đỗ Hà Nam - Chủ tịch Hiệp hội Lương thực Việt Nam nhận định, việc tham gia chuỗi sản xuất gạo chất lượng cao, phát thải thấp không chỉ mở rộng thị trường cho doanh nghiệp, mà còn nâng cao giá trị xuất khẩu và bảo đảm lợi ích bền vững cho người trồng lúa.

Trong quá trình chuyển đổi, ứng dụng công nghệ số, đẩy mạnh cơ giới hóa, xây dựng hệ thống truy xuất nguồn gốc và hình thành hệ sinh thái liên kết bền vững giữa nông dân – hợp tác xã – doanh nghiệp giữ vai trò then chốt. Khi toàn bộ chuỗi sản xuất được quản lý minh bạch, dữ liệu được số hóa và vận hành đồng bộ, hạt gạo Việt không chỉ đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn quốc tế, mà còn từng bước nâng cao uy tín và khả năng cạnh tranh.

TIN LIÊN QUAN