Các dịch vụ cắt tóc, gội đầu, karaoke, vũ trường... phải đóng thuế không phải là quy định mới

(CL&CS) - Tổng cục Thuế khẳng định, mức thuế giá trị gia tăng (GTGT) 5% và thuế thu nhập cá nhân (TNCN) 2% áp dụng đối với hộ kinh doanh (HKD) và cá nhân kinh doanh (CNKD) các dịch vụ tắm hơi, massage, karaoke, internet, may đo, giặt là, cắt tóc,... đã được áp dụng ổn định từ năm 2015 theo Thông tư 92/2015/TT-BTC (Thông tư 92) ngày 15/6/2015 của Bộ Tài chính…

Tổng cục Thuế vừa chính thức có ý kiến phản hồi trước thông tin liên quan đến Thông tư 40/2021/TT-BTC (Thông tư 40) ngày 1/6/2021 của Bộ Tài chính hướng dẫn thuế GTGT, thuế TNCN và quản lý thuế đối với HKD, CNKD vừa được Bộ Tài chính ban hành.

Đã áp dụng ổn định từ năm 2015

Theo phản ánh của báo chí, từ 1/8/2021, sẽ áp mức thuế GTGT 5% và thuế TNCN 2% đối với HKD và CNKD các dịch vụ tắm hơi, massage, karaoke, internet, may đo, giặt là, cắt tóc...Tổng cục Thuế dẫn quy định tại điểm 2 Phụ lục 01 kèm theo Thông tư 92 và cho biết, mức thuế GTGT 5% và thuế TNCN 2% áp dụng đối với HKD và CNKD các dịch vụ tắm hơi, massage, karaoke, internet, may đo, giặt là, cắt tóc,... đã được áp dụng ổn định từ năm 2015, đến nay, theo hướng dẫn tại Thông tư 40 không có sửa đổi nội dung này.

Ảnh minh họa

Các HKD trong lĩnh vực này nếu đã được cơ quan thuế (CQT) thông báo mức thuế khoán từ đầu năm, nếu trong năm có ngừng, tạm ngừng hoặc bị ảnh hưởng sụt giảm doanh thu do dịch bệnh thì CQT sẽ thực hiện điều chỉnh doanh thu và mức thuế khoán theo thực tế.

Thông tư 40  đã hướng dẫn cụ thể việc CQT có trách nhiệm điều chỉnh doanh thu và mức thuế khoán trong trường hợp hộ khoán ngừng hoặc tạm ngừng kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà không yêu cầu HKD thực hiện nhiều thủ tục hành chính như quy định trước đây tại Thông tư 92.

Cụ thể tại điểm b.5 khoản 4 Điều 13 Thông tư số 40 hướng dẫn như sau: “Hộ khoán ngừng hoặc tạm ngừng kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thì CQT căn cứ văn bản yêu cầu ngừng hoặc tạm ngừng của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền để điều chỉnh mức thuế khoán theo thực tế cho thời gian yêu cầu ngừng hoặc tạm ngừng kinh doanh”

Đảm bảo công bằng đối với hoạt động cho thuê nhà

Về thông tin doanh thu cho thuê nhà dưới 100 triệu đồng/năm vẫn phải nộp thuế, dẫn điểm c khoản 1 Điều 9 Thông tư 40, Tổng cục Thuế cho biết, theo hướng dẫn này, các trường hợp có doanh thu cho thuê tài sản đủ 12 tháng trong dương lịch từ 100 triệu đồng/năm trở xuống thuộc diện không phải nộp thuế, trường hợp hợp đồng cho thuê có thời gian vắt năm, thời gian cho thuê tính theo năm dương lịch không trọn năm thì doanh thu để xác định đối tượng không phải nộp thuế vẫn là doanh thu tính thuế của một năm dương lịch (đủ 12 tháng) nhưng doanh thu để xác định số thuế phải nộp trong năm chỉ là doanh thu tương ứng với số tháng thực tế phát sinh cho thuê tài sản.

“Đây là hướng dẫn mới nhằm làm rõ cách tính thuế đối với hoạt động cho thuê nhà, đảm bảo công bằng, xử lý các vấn đề vướng mắc do chưa có hướng dẫn rõ trong thời gian trước đây. Đặc biệt là các trường hợp hợp đồng cho thuê có thời gian vắt năm, thời gian cho thuê không trọn năm dương lịch thì cách xác định đối tượng không phải nộp thuế phải công bằng như những trường hợp phát sinh cho thuê tài sản đủ 12 tháng trong năm dương lịch và phải công bằng đối với các HKD khác từ trước đến nay vẫn đang xác định đối tượng không phải nộp thuế theo doanh thu của 12 tháng kể cả trường hợp kinh doanh không trọn năm như hộ mới ra kinh doanh, HKD thường xuyên theo thời vụ (kinh doanh một số tháng cố định trong năm…”-Tổng cục Thuế giải thích thêm.

Ngoài ra, trong trường hợp cá nhân vừa có cho thuê tài sản vừa có hoạt động kinh doanh khác thì theo quy định mức doanh thu từ 100 triệu đồng/năm trở xuống để xác định đối tượng không phải nộp thuế là tổng doanh thu kinh doanh bao gồm cả hoạt động kinh doanh khác, do đó, cần phải có nguyên tắc thống nhất giữa các hoạt động kinh doanh.

TIN LIÊN QUAN