Chia sẻ tại hội nghị, dù đã hơn 40 năm trôi qua, TS. Angela Pratt - Trưởng đại diện Tổ chức Y tế thế giới tại Việt Nam vẫn không thể quên được khoảnh khắc khi bà mới 3 tuổi, bị rơi xuống khu vực sâu nhất của một bể bơi lớn.
Trong trí nhớ của TS. Angela Pratt, ký ức khi được mọi người kéo ra khỏi mặt nước lạnh lẽo là điều bà mang theo suốt đời như một sự nhắc nhở về ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Với tư cách là mẹ của hai cô con gái sinh đôi, vấn đề đuối nước trẻ em đối với TS. Angela Pratt không chỉ là một chỉ số y tế công cộng mà là một vấn đề chạm đến trái tim, thôi thúc hành động để không một gia đình nào phải trải qua nỗi đau mất mát. Từ câu chuyện cá nhân đầy ám ảnh, TS. Angela Pratt khẳng định một thông điệp mang tính thay đổi nhận thức rằng đuối nước hoàn toàn có thể phòng ngừa được.
Thực tế tại Việt Nam trong những năm qua đã chứng minh điều này một cách hiệu quả nhất. Việt Nam hiện được ghi nhận là quốc gia tiên phong triển khai chương trình phòng, chống đuối nước trẻ em toàn diện trong khu vực và trên quy mô toàn cầu. Sự thành công này không chỉ đến từ các nguồn lực tài chính mà còn từ sự kiên nhẫn và tâm huyết của cả một hệ thống chính trị cùng cộng đồng.
Phát biểu tại hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Tri Thức cho biết, trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm tăng cường bảo vệ trẻ em trước nguy cơ đuối nước; huy động sự tham gia của nhiều ngành, nhiều cấp, toàn xã hội, các tổ chức trong nước và quốc tế trong phòng, chống đuối nước cho trẻ em;
Dự án phòng, chống đuối nước trẻ em giai đoạn 2018 – 2025 với sự hỗ trợ của Quỹ từ thiện Bloomberg, Tổ chức Y tế thế giới, Tổ chức Chiến dịch vì trẻ em không thuốc lá (CTFK) đã triển khai nhiều can thiệp quan trọng tại các địa phương trong giai đoạn 2018-2025. Chương trình phòng chống đuối nước trẻ em tại Việt Nam đã đạt được kết quả đáng ghi nhận, góp phần giảm 16% tỉ suất tử vong do đuối nước tại các địa phương triển khai.
Từ năm 2018 đến tháng 3/2026, hơn 400.000 trẻ em đã được học bơi an toàn, trong đó hơn 75.000 trẻ được hỗ trợ trực tiếp từ Quỹ từ thiện Bloomberg và hơn 334.000 trẻ được hỗ trợ từ nguồn vốn đối ứng của chính quyền địa phương. Ngoài ra, hơn 52,000 trẻ được tham dự các lớp dạy kỹ năng an toàn trong môi trường nước.
Hàng nghìn giáo viên, hướng dẫn viên bơi an toàn được đào tạo; hệ thống giám sát, hướng dẫn kỹ thuật tại các tỉnh được thiết lập; các tài liệu chuyên môn được xây dựng thống nhất và phù hợp thực tiễn Việt Nam; công tác truyền thông và huy động xã hội trong phòng, chống đuối nước cho trẻ em được đẩy mạnh; nhiều mô hình can thiệp hiệu quả đã được triển khai và đánh giá; đồng thời hệ thống dữ liệu, bằng chứng và nghiên cứu về phòng, chống đuối nước tại Việt Nam cũng từng bước được củng cố.
Một điểm rất quan trọng của Dự án là đã giúp chứng minh tính hiệu quả và tính kinh tế của các can thiệp phòng, chống đuối nước cho trẻ em tại Việt Nam, từ đó tạo cơ sở khoa học cho việc xây dựng và hoàn thiện chính sách trong thời gian tới. Đứng dưới góc độ nhà tài trợ, bà Kelly Larson từ Quỹ từ thiện Bloomberg và bà Yolonda Richardson, Chủ tịch Tổ chức Chiến dịch vì trẻ em không thuốc lá (Hoa Kỳ), đều dùng những mỹ từ như "hình mẫu điển hình" và "thực hành tốt nhất toàn cầu" để nói về Việt Nam.
Các chuyên gia quốc tế ấn tượng bởi sự cam kết chính trị mạnh mẽ và cách tiếp cận đa ngành, nơi mà sự phối hợp giữa Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các tổ chức xã hội được thực hiện một cách thực chất và hiệu quả. Việt Nam đã biến các hỗ trợ quốc tế thành nguồn lực nội sinh, tạo ra một chương trình mà ở đó mỗi sinh mạng trẻ thơ đều được coi trọng và bảo vệ.