Hiện Sơn La có 63 hợp tác xã được cấp mã số vùng trồng, trong đó 58 hợp tác xã có mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu; 99 hợp tác xã tham gia xây dựng 125 sản phẩm OCOP. Trong giai đoạn 2022-2024, có 78 lượt hợp tác xã được cấp các chứng nhận VietGAP, HACCP và hữu cơ.
Nông nghiệp xanh là phương thức sản xuất sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên
Ông Dương Gia Định, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La, cho biết, nông nghiệp xanh là phương thức sản xuất sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải khí nhà kính, hạn chế hóa chất độc hại, bảo vệ môi trường và hướng tới phát triển bền vững.
Theo ông Định, việc triển khai các mô hình nông nghiệp xanh đã mang lại hiệu quả kinh tế tăng từ 15%-20% so với sản xuất thông thường nhờ giảm chi phí sản xuất, nâng cao giá trị sản phẩm, đáp ứng yêu cầu về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn xuất khẩu, đồng thời, nông sản có khả năng cạnh tranh tốt hơn tại các thị trường khó tính như Liên minh châu Âu, Nhật Bản và Hoa Kỳ.
Không chỉ mang lại lợi ích kinh tế, các mô hình sản xuất xanh còn góp phần giảm ô nhiễm đất, nước và không khí; bảo vệ độ phì nhiêu của đất, giảm phát thải khí nhà kính và tận dụng hiệu quả phụ phẩm nông nghiệp để phát triển kinh tế tuần hoàn.
Một trong những điển hình tiêu biểu là Hợp tác xã cà-phê Bích Thao, phường Chiềng Cơi. Ông Nguyễn Xuân Thao, Giám đốc hợp tác xã cho biết: Năm 2017, quy mô của hợp tác xã nhỏ, chỉ có 11 thành viên và 50 ha canh tác. Người dân quen hái tuốt cành lẫn quả xanh, phơi thô ngoài trời, sử dụng nhiều phân bón hóa học khiến đất bạc màu, giá cà phê nhân thô rất thấp và bấp bênh.
Sau gần một thập kỷ chuyển đổi, hợp tác xã cà-phê Bích Thao đã mở rộng lên 150ha cà phê đặc sản, liên kết sản xuất với khoảng 1.200 hộ nông dân; đạt các chứng nhận VietGAP, UTZ; ứng dụng mã số vùng trồng kỹ thuật số và hệ thống truy xuất nguồn gốc bằng mã QR.
Toàn bộ quy trình sản xuất được hợp tác xã cà-phê Bích Thao thay đổi theo hướng bền vững, từ thu hái quả chín 100%, sử dụng phân bón hữu cơ đến sơ chế ủ yếm khí và phơi trong hệ thống nhà màng khép kín. Ông Nguyễn Xuân Thao cho biết thêm, Hợp tác xã đã đầu tư lớn vào hạ tầng “xanh” gồm hệ thống nhà màng kiểm soát độ ẩm, nhiệt độ, máy móc sơ chế phân loại màu hạt tự động và chi phí kiểm định chất lượng xuất khẩu châu Âu.
Cùng với chuyển đổi xanh, nhiều mô hình sản xuất ứng dụng công nghệ cao tại Sơn La đang cho hiệu quả kinh tế vượt trội. Các giống ớt chuông, cà chua ghép, dưa lưới, dưa lê Hàn Quốc trồng trong nhà lưới đạt doanh thu từ vài trăm triệu đến hơn một tỷ đồng mỗi héc-ta. Nhiều loại cây ăn quả mới như na Hoàng Hậu, nhãn Ánh Vàng 205, nho Hạ Đen hay chanh leo vàng cũng đang mở ra hướng đi triển vọng cho nông dân.
Theo ông Dương Gia Định, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Sơn La, hiện địa phương đang tiếp tục hỗ trợ hợp tác xã, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số theo hướng thiết thực, hiệu quả nhằm hình thành hệ sinh thái nông nghiệp số và nâng cao sức cạnh tranh cho nông sản địa phương.
Tại Hợp tác xã Nông nghiệp Xuân Tiến, xã Yên Châu, các thành viên đã thay đổi phương thức canh tác theo hướng sử dụng chế phẩm sinh học, hạn chế thuốc bảo vệ thực vật hóa học để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.
Ông Quàng Văn Xuân, Giám đốc hợp tác xã, cho biết, Hợp tác xã đang phối hợp với doanh nghiệp hoàn thiện hồ sơ, lấy mẫu kiểm tra chất lượng để gửi chào hàng sang thị trường Nhật Bản. Nhờ chăm sóc đúng kỹ thuật, diện tích xoài năm nay có tỷ lệ quả loại 1 dự kiến cao hơn những năm trước.
Tuy nhiên, theo ông Xuân, để phát triển bền vững, các hợp tác xã cần chủ động chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp truyền thống sang kinh tế nông nghiệp số và xanh; đẩy mạnh ứng dụng nhật ký điện tử, truy xuất nguồn gốc, phần mềm quản lý sản xuất, hệ thống cảm biến và tưới tiết kiệm nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất.